Thưa ông, tại sao Công ty Cenergy Power lại lựa chọn phát triển những dự án NLMT tại Việt Nam?
Chúng tôi cho rằng, thời gian tới, sẽ có sự bùng nổ về phát triển năng lượng tái tạo khắp thế giới, đặc biệt tại khu vực châu Á - nơi đang có mức phát thải CO2 cao và phải chịu những ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Riêng NLMT, hiện nay, ứng dụng của nó vào các ngành thương mại đang trở thành xu hướng và nhu cầu của nhiều quốc gia khi nguồn năng lượng hóa thạch dần cạn kiệt.
Việt Nam có đặc trưng là nước nhiệt đới, nắng nhiều nên rất thuận lợi để phát triển NLMT. Khi khảo sát ở một số khu vực của Việt Nam, chúng tôi thấy rằng chúng tôi có những dự án thí điểm phù hợp và có thể ứng dụng tại Việt Nam. Thời gian tới, chúng tôi sẽ có sự phối hợp với Công ty Điện lực 1 để có những chương trình phát triển NLMT thí điểm. Theo quan điểm và kinh nghiệm của chúng tôi, nếu muốn phát triển loại năng lượng này thì phải đi tắt đón đầu, sử dụng những kỹ thuật hiện đại.
Thời gian tới, chúng tôi muốn hợp tác để đưa công nghệ sử dụng NLMT mà chúng tôi đã rất thành công ở California về ứng dụng tại Việt Nam.
Nhưng hiện nay, giá điện mặt trời đang ở mức khá cao. Làm thế nào để điện mặt trời có thể cạnh tranh được về giá so với các nguồn điện khác, thưa ông?
Trước khi nói đến vấn đề giá, tôi muốn đề cập đến những lợi ích mang lại cho Việt Nam khi sử dụng NLMT.
Thứ nhất, có thể thấy rằng các nguồn điện truyền thống ở Việt Nam hiện nay không đủ để cung ứng cho nhu cầu sử dụng. Cho nên, nguồn điện mặt trời sẽ rất cần thiết để bổ sung, nhất là vào giờ cao điểm. Khi điện mặt trời được mua để bổ sung vào giờ cao điểm sẽ tránh tình trạng cắt điện gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Nguồn lợi cũng sinh ra từ đó.
Thứ hai, chúng tôi quan tâm đến việc bán điện cho các dự án có tính chính trị xã hội cao như vùng sâu vùng xa, những vùng trọng điểm có tính chiến lược quốc phòng như hải đảo, đội biên phòng… để những nơi đó có điện mà không phải chịu giá quá đắt đỏ. Bởi có thể giá điện mặt trời có cao hơn những nguồn điện khác nhưng nếu so sánh với số tiền phải bỏ ra để nối lưới nhằm đưa điện đến những vùng này thì đây lại là giải pháp kinh tế và thích hợp hơn.
Thứ ba là NLMT có những lợi ích liên quan đến ngành du lịch Việt Nam. Ví dụ như bên cạnh một số khu du lịch rất đẹp lại có những đìa nuôi tôm gây ô nhiễm. Nếu thay thế vào vị trí các đìa nuôi tôm bằng các tấm thu năng lượng mặt trời sẽ có 3 cái lợi: vừa giải quyết ô nhiễm môi trường, vừa tăng cung cấp điện và vừa tạo ấn tượng với du khách rằng đây là khu du lịch hoàn toàn xanh và sạch. Tôi nghĩ đó là những mô hình nên được triển khai.
Trước những lợi ích như vậy, tôi nghĩ sự cạnh tranh về giá điện sẽ là vấn đề không còn quá quan trọng nữa.
Hơn nữa, hiện giá các tấm thu NLMT đang ngày một giảm, chỉ có pin mặt trời giá vẫn cao. Cho nên, chúng ta vẫn có thể sản xuất thẳng điện rồi cung cấp cho điện lưới quốc gia chứ không nhất thiết phải lưu trữ lại NLMT qua pin. Đó cũng là giải pháp bước đầu để giúp NLMT có được sự cạnh tranh về giá với các loại NL khác.
Theo ông khoảng bao lâu nữa, Việt Nam sẽ có NLMT bán rộng rãi?
Nếu ứng dụng những mô hình chúng tôi đã thành công thì chỉ khoảng 2 năm nữa Việt Nam sẽ dẫn đầu Đông Nam Á cả về nguồn lực và các dự án NLMT.
Ông có thể nói rõ hơn lộ trình của công ty tại Việt Nam để đạt được mục tiêu đó?
Lộ trình của chúng tôi là đưa công nghệ về đây, chọn một số dự án thí điểm để hợp tác, từng bước đưa công nghệ sử dụng NLMT vào ứng dụng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, từ quý II đến quý IV năm 2010, chúng tôi sẽ đào tạo công nghệ cho khoảng hơn 100 kỹ sư Việt Nam để họ làm chủ được công nghệ và vận dụng những công nghệ đó vào phát triển NLMT tại Việt Nam lâu dài.